Ở cõi đất Việt này thì nhạcTrịnh là món âm nhạc phổ biến nhất ! Nhạc Trịnh như bữa cơm ăn thường nhật, như cơm canh rau muống hàng ngày. Dân dã, mà không thể thiếu…Trịnh Ca - Đóa hoa vô thường 10

Vì sao ?

  • Bởi -1. Nhạc Trịnh nó giản dị lắm lắm. Không cầu kì. Không đòi hỏi bạn phải có 1 dàn âm thanh đắt tiền nghe mới hay.. Bởi chỉ cần 1 cái cassette cũ mèm ! Thế là đã-đủ-đầy cho một chiều Chủ Nhật buồn!
  • Bởi -2. Ngôn từ Trịnh giản dị lắm lắm. Được chắt lọc từ chính đời thường. Chắt ra từ âm thanh cuộc sống, từ thiền học, từ Phật giáo…như một Đóa Hoa Vô Thường
  • .
  • .tìm em tôi tìm, từng giọt sương mai..
  • Bởi vì….., mùa thu tôi ở lại ^^
  • Bởi,… Đời ta có khi là đốm lửa,..

Ca Khúc Là Nỗi Lòng Con Người

Hạt Bụi Nào Hóa Kiếp Thân Tôi ?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng viết: “Ban đêm, tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung, nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng chỉ để sống, và hãy thả trôi những tị hiềm… Nhìn trời để thấy mình nhỏ bé trong vũ trụ vô biên, con người chỉ là hóa thân của một hạt bụi trong mênh mông trần thế. Nhìn đất để học cái hạnh tha thứ bao dung của đất. Đất nhận biết bao nhiêu là chất thải dơ bẩn của con người, nhưng lại chuyển hóa tất cả để lại nuôi sống mọi loài.Kiến biểu hiện cho lòng kiên nhẫn. Người ta nói kiến tha lâu đầy tổ chẳng khác gì nước chảy đá mòn. Hình ảnh một đàn kiến bò luôn luôn giữ đúng đường đi còn gợi cho ta về sự nhẫn nhục. Nhẫn nhục làm nguôi sự giận dữ và bắt đầu cho sự tha thứ. Tha thứ trong ý thức con người nhỏ bé đối với vạn vật. Tha thứ trong ý thức quên mất cái ngã của mình. Cho nên sống trong đời sống, cần có một tấm lòng. Để làm gì, em biết không? Để gió cuốn đi là thế…”.

Trịnh Công Sơn

Tiểu Sử

Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến.Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc). Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản-chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và phần lớn bị cả hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm đoán. Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly.Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ không chuyên.

Đôi điều...

Vài nhận xét về Trịnh Công Sơn

Ngày xưa tôi rất quý anh Trịnh Công Sơn và ngược lại. Tôi yêu sự chân thành, dễ thương và trân trọng, tài năng của con người đó. Mặc dù, âm nhạc của anh ấy không phải là cái gì quá ghê gớm nhưng có mấy ai mà có cả đủ tâm lẫn tài như thếNhạc sĩ: Văn CaoTôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái nào là phụ… Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào raNS Phạm DuyTình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội như trái phá con tim mù lòa, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết thương mở rộng… Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh Chúa, Phật bỏ loài người. Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không. Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi… Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn… Buồn tủi cho thân phận con người nên nhánh cỏ cũng xót xa, phiến đá cũng ưu phiền, và chỉ còn những mưa và mưa để xoa dịu vết thương mở lớn!… Trịnh Công Sơn nói lên nỗi bàng hoàng của con người khi thấy cái chết nằm ngay trong sự sống. Nguyễn Đình Toàn gọi nhạc Trịnh Công Sơn là những bản tình ca không có hạnh phúc, những bài hát cho quê hương đổ vỡ. Cũng là phản ứng của người đau đớn trước hoàn cảnh đất nước, nhưng nó là sự chịu đựng và chết lịm hơn là sự nổi sùng và chửi bới….Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại. Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hòa âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade nàyTrần Đăng KhoaTrịnh Công Sơn là nhạc sĩ có nhiều người hâm mộ nhất. Đi đến đâu, tôi cũng thấy người ta hát ca khúc của anh. Nhạc Trịnh không chỉ ngự trị khắp mọi xó xỉnh của xứ Việt này mà còn len lỏi đến tận những ngóc ngách sâu thẳm nhất trong cõi tinh thần của người Việt ở Hải ngoại. Dường như ở đâu, Trịnh Công Sơn cũng có người yêu mếnSự nghiệp của Trịnh Công Sơn quá đồ sộ, rất nhiều sách vở viết về TCS : Xem Wikipedia

TCS thân mến

……………….3 giờ chiều chủ nhật 1-4-2001, 

cô bạn đồng nghiệp gọi dây nói cho tôi, báo tin: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã qua đời cách đây vài tiếng đồng hồ. Tôi biết Sơn lâm bệnh từ nhiều năm nay, và gần đây, anh vào nằm ở bệnh viện Chợ Rẫy vì sức khỏe rất xấu. Biết vậy, nhưng tôi vẫn chưa tin, vì hôm nay là ngày 1-4. Tôi gọi điện thoại sang nhà Sơn ở 47C Phạm Ngọc Thạch thì gặp Hà, em của Sơn, Hà nghẹn ngào: “Sơn mất rồi!”.

Trong giờ phút đau buồn này, tôi xin nhắc lại đôi chút về người cha của Trịnh Công Sơn mà ít người biết. Một lần Sơn bộc bạch với bạn bè: có những điều vừa mới xảy ra đã vội quên. Thời thơ ấu của tôi luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hàng đêm, tôi thường thấy cái chết của ba tôi.

Trịnh Ca - Đóa hoa vô thường 11
Nỗi ám ảnh ấy chắc hẳn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tội tra tấn chết đi sống lại của ba tôi, trong kháng chiến chống Pháp. Những năm cuối thập niên 40, chỗ ở chính của ba tôi gần như là nhà tù. Và cái trò chơi “đo lường thể xác” của những tên cai ngục thường buộc ba tôi phải nằm dài trên giường bệnh nhiều hơn là đi chân trên mặt đất. Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949, tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi một năm trước khi gia đình kéo về Sài Gòn.

 
Rõ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn nhạy cảm của tuổi thơ. Ba Sơn mất đi khi anh vừa 15 tuổi. Sau này rất nhiều bài hát đầu đời của Sơn đã phảng phất cái không khí vắng lặng của sự mất mát. Càng về sau, lúc tiến dần về tuổi trưởng thành, giữa bức xúc của cuộc sống, giữa những năm tháng buồn vui, nỗi ám ảnh ấy đã trở thành lúc nào không hay ngọn nguồn của một nỗi âu lo thường trực và sự vắng bóng con người.

Anh hát lên lòng nhân ái đó, đã hát lên trong một thời niên thiếu và mãi mãi. Anh đi sâu vào cội rễ của nó để cố gắng hoàn thiện một tiếng hát mới mẻ đầy nhân hậu cho những ca khúc của riêng anh, như ta đã biết và đã hát.

Tôi là một đứa bé thích hát – sinh thời, Sơn tự bạch: 

Ngạn ngữ Pháp có nói rằng, cái gì bắt đầu tốt thì sẽ kết thúc tốt. Tôi không hiểu trong những địa hạt kinh tế, xã hội, khoa học như thế nào, nhưng trên lĩnh vực văn nghệ đôi khi hoặc nhiều khi nó không hoàn toàn như thế. Có không ít những trường hợp người nghệ sĩ đã khởi đầu rất hay và kết thúc rất tệ.

Tôi bước chân vào đất đai nghệ thuật tương đối sớm. Từ tuổi 13, 14 tôi đã làm những lưỡi sóng liếm láp mạn thuyền văn nghệ. Trước đó, 10 tuổi, biết chép lại những bài hát yêu thích, đóng thành tập, chơi đàn măng đô lin. 12 tuổi có cây đàn ghi ta đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng ghi ta như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát. Trong huyết quản tôi, có thể thời ấy đã luân lưu những lượng máu bất bình thường. Và từ đó tôi rơi vào một cơn mộng mị triền miên. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong. Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành ra Trịnh Công Sơn. Bài hát đầu tiên của anh do nhà xuất bản An Phú phát hành năm 1959 tại Sài Gòn, do Thanh Thúy hát quanh những phòng trà. Đó là những cảm xúc được ghi lại từ những giọt nước mắt của ca sĩ nữ sinh vừa rời ghế nhà trường. Hát để kiếm tiền nuôi mẹ đang hấp hối bên giường bệnh.

 Trịnh Công Sơn gốc Huế, sống tại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại chào đời ở Đak Lăk.

Anh là một nghệ sĩ tài hoa. 

Lời của ca khúc họ Trịnh đầy tính triết lý về cuộc đời, về thiên nhiên, trời đất. Nói về con người, người đẹp của Sơn phải là người gầy, không gầy thì không đẹp.
Ví dụ: 
Vai gầy: Tuổi nào vừa thoáng buồn do gầy vai (Còn tuổi nào cho em). Tay gầy: Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm, trên mùa lá xanh, ngón tay em gầy nên ru mãi trên ngàn năm (Ru em từng ngón xuân nồng). Đóa hoa hồng tàn hôn lên môi em gầy ngón tay dài (Tuổi đá buồn). Gầy và xanh: Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao (Diễm xưa) hoặc: Bàn tay xanh xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)…
Bài hát Nhớ mùa thu Hà Nội của anh có thật nhiều chi tiết khiến cho ai đã từng thân thương Hà Nội đến phải sững sờ: “Cây cơm nguội vàng… cây bàng lá đỏ…những con đường nhỏ nằm chờ tôi qua và những con sâm cầm cất cánh trên Hồ Tây… Rất ít ai hạ bút viết được những ý này như Sơn. Giai điệu âm nhạc của anh thì ai cũng cảm thụ được. Cũng cái đẹp này, Khánh Ly viết: “Tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu. Không yêu Sài Gòn nhiều lắm mà chỉ xót xa đến Huế nóng cháy da, mềm thịt. Huế lạnh buốt, lạnh từ trong lạnh ra. Dường như Huế chỉ thực sự huyền ảo, đẹp nên thơ bởi những nghệ sĩ viết về quê hương mình. Có lẽ đó là điều dĩ nhiên của mọi người, mọi miền khi viết về nơi mình sinh ra. Âu cũng không phải điều làm ta ngạc nhiên. Nhưng không phải vì những điều người Huế viết về người Huế đã làm tôi yêu Huế. Vì như vậy thì tôi phải yêu Hà Nội nhiều hơn mới có lý. Phải yêu Sài Gòn hơn, Đà Lạt hơn mới phải. Vậy mà tôi yêu Huế, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn tôi năn nỉ Mi noái cho tau nghe chút chi cho đỡ nhớ. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép, nhẹ nhàng. Có một cái gì thật mong manh, như tơ, như sương khói, nhưng một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng họ không phải là sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ, dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng làm tan biến đi tất cả…”. Cho nên cái vẻ mong manh như sương khói của Huế là một sức mạnh cường tráng và dữ dội của thác ghềnh. Như nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, mơ màng đó, sương khói đó, nhưng không tan biến theo thời gian mà vẫn đọng, vẫn chảy trong lòng người.

Nhiều cụm từ trong nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dường như đã đáp lại tiếng thì thầm nhu mì, ảo diệu của thiên nhiên và để kịp ghi những sắc thái bí ẩn mà vũ trụ lưu lại: vết lăn trầm, màu xanh lá vội, ngón tay rêu, cọng buồn cỏ khô, cụm chiều, ngón xuân nồng, nụ đời, phiếu môi em mềm… Những sáng tạo ngôn từ của Sơn sáng tạo mà không cầu kỳ, ngẫu nhiên mà không tùy tiện, giàu chất suy tưởng mà không duy lý, bởi chúng thấm nhuần cái tinh thần sống động tươi xanh mềm mại của thiên nhiên…
 

Các tuyển tập: 

  • Ca khúc da vàng; 
  • Kinh Việt Nam; 
  • Ta thấy mặt trời; 
  • Cỏ xót xa đưa; 
  • Như cánh vạc bay; 
  • Khói trời mênh mông; 
  • Tự tình… 

Trong các thập niên 60-70, được nhiều thế hệ thanh niên, sinh viên, học sinh yêu thích, đặc biệt ca khúc Nối vòng tay lớn được chọn hát trên Đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trưa ngày 30-4-1975, giờ phút miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau ngày đất nước thanh bình, đã mở ra những chân trời mới trong sáng tác của người nghệ sĩ. Ngoài sáng tác ca khúc, anh còn viết báo, viết văn, làm thơ với bút pháp trau chuốt, mượt mà, tinh tế, với vốn kiến thức uyên thâm, được nhiều nhà văn, nhà báo đánh giá cao.
Ở giai đoạn này, về ca khúc đáng chú ý nhất là:

  • Huyền thoại mẹ; 
  • Em ở nông trường em ra biên giới; 
  • Sài Gòn mùa xuân; 
  • Nhớ mùa thu Hà Nội; 
  • Muôn trùng biển khơi; 
  • Hoa vàng mấy độ; 
  • Tôi ơi đừng tuyệt vọng; 
  • Đồng dao năm 2000; 
  • Bốn mùa thay lá… anh còn viết nhiều nhạc cho phim.
 
Lúc còn sống, anh tâm sự với bạn bè rằng, cả cuộc đời tôi đi vào âm nhạc, có buồn, có vui, nhưng vẫn thủy chung. Tôi đã cố gắng trong khả năng của mình nói hết những điều cuộc đời đã hé mở cho tôi và tôi cũng đã trải lòng mình không giấu diếm. Trong cuộc chơi này, có lúc tôi thấy đời với tôi là một. Chỉ có một điều không có gì an ủi nổi là tôi thì không già đi mà đời cứ trẻ mãi!… Trong tự bạch của mình, Trịnh Công Sơn viết: “Nhìn lại quãng đường mình đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại với cây cỏ thiên nhiên, với con người, qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của những ngày tôi đang sống.
 
Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang màu xanh cũ nữa mới nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người và cuộc sống. Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát, bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi rên cuộc đời này như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.
Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng gánh nhẹ dùm những phiền muộn.
 

Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thệ mà cha mẹ đã sinh thành…”.

Anh còn vẽ tranh. Uống rượu và vẽ tranh, vẽ tranh và uống rượu, hay cả hai cùng chia sẻ với anh nổi quạnh hiu đêm đêm. Những thập niên cuối đời, Trịnh Công Sơn vẽ tranh là một hoạt động hào hứng và thường xuyên. Ngoài một tài năng lớn về âm nhạc, Sơn còn là một họa sĩ có phong cách hội họa hiện đại quyến rũ vượt trội mặc dù không hề qua trường lớp mỹ thuật nào. Cũng như âm nhạc, tài năng hội họa được bộc lộ mạnh mẽ trên các tác phẩm sơn dầu của anh, nhất là những tác phẩm vẽ chân dung hoặc khỏa thân. Trịnh Công Sơn là một tài năng bẩm sinh. Thật ra anh có khả năng lớn để đi theo con đường nghệ thuật tạo hình từ những năm cuối của thập niên 50; anh đã từng thực hiện một số tranh bằng bột màu. Một trong những bức tranh thời đó còn lưu lại là bức vẽ B Diễm (Diễm xưa) với hàng cây long não phía sau bằng một gam màu lạnh…. Có lần anh trả lời phóng viên báo Đại Đoàn Kết: “Tôi không thấy có ranh giới nào giữa thế giới âm thành và thế giới im lặng cả. Những gì không nói được bằng ngôn ngữ của âm nhạc thì tôi nhờ đến ngôn ngữ màu sắc. Nếu cả hai phương tiện này cũng chưa chuyên chở hết những suy nghĩ của tôi về đời và con người thì tôi lại phải tính đến văn chương”.
 
Người nhạc sĩ tài hoa 62 tuổi ấy có sức hút lạ lùng, mạnh mẽ. Chỉ cần với tên gọi đơn giản của chương trình “Đêm nhạc Trịnh Công Sơn cũng đủ để người đến đông nghẹt. Nhưng Sơn ơi, anh đã nằm xuống, âu cũng là một cõi đi về, nhưng chắc chắn âm thanh của âm nhạc sẽ bay xa mãi và còn vang vọng trong lòng nhiều thế hệ.
 
Ngày còn sống, Sơn đã mơ thấy chuyến đi xa của mình. Anh đã viết trước thành câu chữ về chuyến đi đó như sau: “Càng sống nhiều, người ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ ai. Chết quá dễ dàng mà sống là quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy, ngày mai lại gặp nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay, ngày mai. Chết thì chẳng bao giờ có cuộc hẹn hò nào trước. Một buổi sáng cách đây 4 năm (Bản tự bạch này đăng ở đặc san Thơ số 3 của quý III năm 2003 ở phụ trương báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam), lúc tôi đang ngồi uống rượu với bạn, mẹ tôi bảo “Má đi chơi một chút nghe”. Thế rồi một giờ sau, tôi được điện báo tin mẹ đã mất ở nhà người bạn.
 
Nhạc sĩ Xuân Hồng cũng đã từ biệt chúng tôi như thế. Không kịp nói một lời, không kịp đưa tay vẫy chào bạn bè, vẫy chào cuộc sống. Thế kỷ XXI thế mà cũng khó đến được, dù chỉ còn mấy năm.
Càng yêu ta càng thấy: Có tình yêu thì khó mà mất tình yêu quá dễ. Hôm qua nói yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi. Mất sạch như người buôn mất đi vốn liếng. Cứ tự an ủi mình rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng hờn oán thì cũng nặng nề.
 

Có người bỏ cuộc đời đi mà như một giấc ngủ quên. 

Có người bỏ cuộc tình đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng người đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi ngậm ngùi.

 

 Tưởng rằng có thể quên đi dễ dàng một cuộc tình, nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia thì chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi con người vì sợ mất tình mà giữ trong lòng nỗi nhớ nhung…”.

 
Để kết thúc cho bài viết này, tôi xin nhắc một chút về “Những người tình” của Trịnh Công Sơn. Cách đây vài năm, một phóng viên hỏi ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, cô em út của Sơn (Gia đình Sơn có tám anh chị em, ba trai năm gái: Sơn, Hà, Tịnh, Thúy, Tâm, Ngân, Diệu và Trinh. Người cha mất sớm, khi đó Trinh vẫn còn nằm trong bụng mẹ mới được bốn tháng tuổi. Vì vậy, Sơn luôn thương và chăm sóc cho Trinh nhiều nhất), rằng: “Gần đây, một người được cho là người tình cuối cùng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đi lấy chồng, không biết gia đình có quan tâm đến điều đó không?”. Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh cười, đáp: “Người nào cũng đòi làm người tình cuối cùng của anh Sơn hết. Cái đó tôi không biết và cũng không để ý. Anh Sơn là một nhạc sĩ, một bóng hồng đẹp đi qua, anh cũng làm được một bài nhạc hay một bài thơ…”.
 
Câu trả lời của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh rất ấn tượng đối với những người nghiên cứu nhân văn. Người tình cuối cùng, người tình đầu tiên, người tình trong giai đoạn X, Y, Z gì gì đó không đáng quan tâm mà chỉ nên lưu ý đến “những bóng hồng đẹp” đã đi qua đời Trịnh Công Sơn và đã giúp cho anh để lại cho đời “một bài nhạc hay bài thơ” mà thôi.
 
Nếu là mối tình đầu của Trịnh Công Sơn, ta hãy nghe Sơn kể “Diễm của những ngày qua” được đăng trên báo Gia đình và xã hội cuối tuần số ra từ ngày 12 đến 18-1-2002: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa Huế. Nhà cô ấy bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy, hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ biến mất đi. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa…”.
 
Thôi, nhưng đã trót nói thì nói ra cho hết, tuy có hơi dài dòng một chút. Sau gần nửa thế kỷ, hơn 300 bức thư tình mới được chủ nhân của nó – bà Ngô Thị Dao Ánh tiết lộ, hé mở phần sâu thẳm trong trái tim một nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, gắn với một thời đoạn khai sinh những ca khúc bất hủ về tình yêu và thân phận. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của Sơn, nhà thơ Nguyễn Duy, người được gia đình Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người, thổ lộ: “Đọc hết 320 lá thư tình, tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong 46 năm qua, tức là gần nửa thế kỷ Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể, đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt, nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian”.
 
Xin trích một trong những bức thư buồn ấy.
 
B’lao, ngày 25 – Mars – 1967
Bây giờ đã quá khuya, chương trình chuyên đề về tình yêu còn để lại một vị đắng rất mỏng. Mọi người cũng đã ngủ từ lâu và anh cũng phải quyết định một lần cho Ánh lẫn cho anh. Một quyết định thật khó khăn và chẳng ai trong cuộc dám dứt khoát với chính mình. Quyết định nào cũng có sự khổ sở của nó. Anh cam đành là kẻ bội bạc để mở ra cho Ánh sự ngạt thở bấy lâu trong đó người này hay kẻ kia đã cố gắng đóng cho trọn vai trò của mình. cho đến phút này anh vẫn cảm thấy chỉ riêng anh đã sống thật hồn nhiên trong tình yêu đã qua.
“Chúng mình chấm dứt tình yêu đó ở đây”.
Hãy xem mọi lầm lỗi đều ở anh và cả sau quyết định này là một lối ngỏ thênh thang trên đó, Ánh hãy đi vào những phiêu lưu mới đừng ăn năn, đừng băn khoăn gì cả. Tất cả đã rõ như một khoảng trắng. Cũng đành vậy thôi.
Anh đã nhìn tình yêu ở một độ cao nhất của thủy triều. Quyết định như không thuộc về anh. Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi chờ đợi thật dịu dàng không bao giờ còn có được. Để vĩnh biệt nhau trong tình yêu đó. Anh chỉ muốn khuyên Ánh, trong tương lai hãy tự tin hơn và bớt suy tính.
Anh đã bất lực không cứu vãn gì được cho tình yêu của mình. Thêm một lần đánh mất và thất lạc những vàng son.
Đã viết quá dài ngoài ý muốn, nhưng nói một lần mà cho tất cả về sau.
Cầu mong thật nhiều bình an cho Ánh và đời đời hạnh phúc trong những dự tính mới ở tương lai.

Ca khúc là nỗi lòng con người

Ca khúc là nỗi lòng con người
Đối với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, quá trình 40 năm sáng tác của ông là một cuộc hành trình dài vào bề sâu của âm thanh và ngôn ngữ. Ông coi ca khúc là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn chỉnh; là cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc. Công việc sáng tác ca khúc không chỉ cho phép ông giãi bày những niềm vui, nỗi buồn của mình, mà cao hơn, nó còn mang tình yêu, lòng nhân ái tới mỗi người.

Soi gương

Mỗi sáng nhìn vào mặt gương soi lại thấy thêm rất nhiều sợi tóc bạc.

Tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.

Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong. Như những họa sĩ tập sự bắt đầu sự nghiệp mình bằng cách sao chép lại tác phẩm của những nhà danh họa, tôi cũng chọn một số mẫu mực âm nhạc mà tôi yêu thích và thay đổi giai điệu bên trong ở thời kỳ đầu. Đó là những năm 56 – 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên ham muốn trở thành nhạc sĩ. Đối với cái bề mặt xã hội lúc bấy giờ, tương lai có nhiều tiếng gọi khác hấp dẫn hơn, quyến rũ hơn cho một con người còn trẻ tuổi.
Dạo ấy ba tôi đã mất, mẹ tôi ở xa, tôi một mình giữa Sài Gòn phải tự quyết định mọi chuyện về đời mình. Cái gánh đời tuổi tác còn quá nhẹ. Có lúc tôi đã bỏ dở cái trò lãng mạn viết lách này với nỗi ám ảnh ngu ngốc “xướng ca vô loại”. Tôi trằn trọc đêm này qua đêm khác, ray rứt ngày này qua tháng nọ. Nhưng càng cố quên lãng thì tiếng hát trong tôi càng vang lên rõ rệt, tràn ngập cả lúc đứng ngồi, cả trong giấc ngủ.
Dần dà những năm về sau, mới bắt đầu hình thành trong tôi một quan niệm rõ rệt: Sống là sống với người khác và muốn có cảm thông chúng ta phải luôn luôn tự diễn đạt mình. Trong những cách diễn đạt bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều phương tiện khác, tôi thấy tâm hồn mình có khuynh hướng nghiêng về phía ca khúc. Trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi tìm thấy tự do và tôi nghĩ rằng ở đây tôi có thể bày tỏ được với người khác về những niềm vui nỗi buồn của cuộc sống.
Mấy mươi năm nhìn lại quãng đường mình đã đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại với cây cỏ thiên nhiên, với con người qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của những ngày tôi đang sống.
Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang mầu xanh cũ nữa, mới nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người và cuộc sống. Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi trên cuộc đời này như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.
Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình; đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng đã gánh nhẹ giùm những phiền muộn.
Trịnh Ca - Đóa hoa vô thường 12

Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành.

Trái đầu mùa

Bài hát đầu tiên do Nhà xuất bản An Phú phát hành năm 1959 tại Sài Gòn. Đó là những cảm xúc được ghi lại từ những giọt nước mắt của một ca sĩ nữ sinh vừa rời ghế nhà trường. Cô hát để kiếm tiền nuôi mẹ đang hấp hối trên giường bệnh.

Dạo ấy, trong đầu hoàn toàn chưa có một khái niệm nào về tiền tác quyền. ở tuổi hai mươi, trong tâm trí đang còn phơi phới những ý đồ hiệp sĩ. Số tiền năm ngàn hồi ấy quá lớn đã được dùng một phần tặng người ca sĩ và phần còn lại chia đều cho các bạn cùng ở trọ. Mỗi tháng, tiền ăn ở cho một học sinh, sinh viên chỉ có năm, sáu trăm đồng.

Nguồn cảm hứng đầu tiên ấy đã làm cơ sở cho một loạt những cảm xúc khác thành hình. Như một khu rừng mùa thu yên tĩnh được một cơn gió thổi bùng lên đánh thức lớp lá vàng dậy, tâm hồn tôi đã bắt đầu biết xôn xao theo những tín hiệu, dù nhỏ nhất của cuộc sống. Tôi không còn nhìn ngắm cuộc sống một cách lơ đãng như trước nữa mà càng lúc càng thấy mình bị cuốn hút về phía những tình cảm phức tạp của con người.
Những trái cây đầu mùa ấy còn vụng về, chưa có vóc dáng riêng, nhưng nó mang đến niềm thích thú để từ đó sẵn lòng làm một cuộc hành trình dài lâu đi vào cái bề sâu của âm thanh và ngôn ngữ.

Gặp gỡ

Năm 64 – 65, tôi được các bạn tổ chức buổi ra mắt đầu tiên trước quần chúng tại khu đất trống sau lưng trường Văn Khoa Sài Gòn cũ (nay là Thư viện Quốc gia).

Với tôi, đây cũng là buổi thể nghiệm xem mình có thể tồn tại trong lòng quần chúng được không. Trước mặt đám đông đến mấy nghìn người gồm đủ thành phần văn nghệ sĩ, trí thức, học sinh, sinh viên tôi cảm thấy mình quá trơ trọi và đầy lo âu trên bục gỗ với cây đàn guitar dưới ánh sáng đèn. Với một hành trang nhẹ nhàng bằng hai mươi ca khúc nói về quê hương, ước mơ hòa bình và những bài sau này được gọi là “phản chiến”, tôi đã cố gắng hết sức để một mình đảm nhận vai trò đưa nỗi lòng của mình đến với quần chúng. Buổi hát đã để lại một ấn tượng khá tốt đẹp cho cả người trình bày lẫn người nghe.

Trong buổi diễn có một bài hát được yêu cầu hát đến lần thứ tám và cuối cùng mọi người tự động hát theo. Sau buổi diễn tôi đã được “bồi dưỡng” bằng một tiếng đồng hồ ngồi ký tên trên những trang giấy của tập bài hát quay roneo dành cho người nghe.

Đó là buổi gặp gỡ đầu tiên giữa người sáng tác và người nghe. Những buổi trình diễn nối tiếp ở các giảng đường đại học khác cũng được lặp lại trong một bầu không khí nồng nhiệt như thế. Trong tôi bắt đầu sáng lên một khái niệm: đó là ý thức về trách nhiệm của người sáng tác đối với công chúng.
Thuở ấy Nhị Xuân. Em ở nông trường. Em ra biên giới.

Đêm Nhị Xuân không còn thấy rõ mầu đất đỏ và những bãi mía, bãi dứa cùng lán trại cũng khoác một mầu áo khác. Mưa xuống. Hội trường dã chiến như một cái rá lọc nước thả xuống những giọt dài. Chúng tôi (Phạm Trọng Cầu, Trần Long ẩn và tôi…) cùng anh em thanh niên xung phong nam nữ hát với nhau dưới một bầu trời được trang trí lạ mắt như thế. Đêm cứ dài ra và những tiếng hát cứ dài ra. Nước ở con kênh dâng lên. Mặc kệ. Cứ đứng, cứ ngồi, cứ hát. Gần khuya có cô gái thanh niên xung phong nhanh nhẹn vui tươi mang cho chúng tôi những bát cháo gà trước khi chia tay. Những khuôn mặt ấy, tôi đã quen đã nhìn thấy nhiều lần. Một giờ khuya, lên xe giã từ Nhị Xuân, lòng còn âm vang tiếng cười, tiếng hát. Những bàn tay siết chặt, những cái vẫy tay trong đêm không nhìn thấy. Quá giờ giới nghiêm, xe nằm lại giữa đường, không được vào thành phố. Ngủ lại chờ sáng. Về lại thành phố, trở lại công việc thường ngày. Nhưng ở Nhị Xuân, có hai mươi người con gái thanh niên xung phong đi về phía khác. Mấy tháng sau, tôi được tin tất cả hai mươi khuôn mặt tôi đã nhìn, đã gặp trong đêm hôm nào ở Nhị Xuân cùng nhau ca hát, đã hy sinh ở biên giới Tây Nam. Những tiếng hát, giọng cười còn đó. Những cây mía, cây dứa các bạn trồng vẫn còn đó, vẫn lớn lên. Tôi bồi hồi nhìn ra quãng trời rộng và thấy lại trong trí nhớ những con người trẻ trung ấy. Trong những trái tim ấy có gì khác chúng ta không. Trong giấc ngủ ban đêm, trên những vầng trán khỏe mạnh ấy, đã có những cơn mơ nào. Chúng ta nói quá nhiều đến sự tròn đầy và chúng ta quên đi sự mất mát. Chúng ta vẽ ra lắm nụ cười mà quên đi những nỗi ngậm ngùi riêng tư. Những người bạn nhỏ ấy đã ra đi vĩnh viễn, nhưng nỗi nhớ thương về họ chưa được hát đủ như một nỗi đau. Còn thiếu sót biết bao nhiêu điều chưa nói hết lúc ở nông trường và càng chưa nói được một mảy may lúc ra biên giới. Làm một điều gì chưa đến nơi đến chốn với một người không còn nữa, có phải cũng là có lỗi với cuộc đời rồi hay không. Xin hãy tha thứ những dòng chữ óng mượt, những sắp xếp tinh khôn, những cân nhắc đong đo xuôi chèo thuận lái.

Thông điệp

Mỗi người đều có một cách riêng và một lý do riêng khi đến với nghệ thuật. 

Cánh cửa mở ra, chúng ta bước vào. Có những cánh cửa rộng hẹp không đều nhau. Có những cách nhìn và lòng đam mê không giống nhau. Và làm sao có thể giống nhau được khi bản chất của nghệ thuật là một đòi hỏi miên man cái muôn hình vạn trạng. Từ đó hình thành tính cách của mỗi con người muốn lân la kết tình bằng hữu với nghệ thuật.

Có một điều chắc chắn là không có ai làm nghệ thuật một cách không nghiêm túc. 

Con người còn lắm chỗ, lắm nơi để bày ra những trò phù phiếm. Tuy nhiên, cũng có không ít những người quan niệm rằng làm nghệ thuật không vì một mục đích nào cả nghĩa là muốn hoàn thành một thứ nghệ thuật không có cứu cánh.

Đã từ lâu tôi muốn qua ca khúc nói được thật nhiều điều. 

Tôi không chọn ca khúc như một chặng đường để rồi sau đó tu dưỡng hòng nhảy vào những thể loại to lớn hơn. Ca khúc đối với tôi là một mô hình gần gũi, thiết thân và hoàn chỉnh. Nó là một cuộc hôn phối kỳ diệu giữa thi ca và âm nhạc.

Ở nơi nào trên mặt đất này có con người, ở đó có tiếng hát. 

Con người có thể hát một mình ở bất kỳ nơi đâu. Ca khúc là nỗi lòng của một con người trong cuộc sống. Cuộc tình giữa âm nhạc và văn học này đã khiến ca khúc tự nó có thể chạm đến mọi bờ cõi tri thức của đời sống con người. Nó đủ khả năng hát về một cái chồi non vừa nhú cho đến cái chết của một con người. Nó chính là tiếng chim buổi sáng, tiếng gà gáy trưa bên đồi mang âm vang của một nỗi nhớ nhung. Nó là nắng, là mưa, là nụ cười, là tiếng khóc. Nó ở cùng với điều nhỏ nhất và đồng thời cũng sống chung với những cõi bờ bao la.

Tôi chưa bao giờ cảm thấy ca khúc bối rối trước những điều tưởng không nói được. 

Nó đã đi qua bao nhiêu mùa mang giữa lòng cuộc sống con người và thường nó có mặt bên cạnh con người như một lời an ủi. Cũng vì thế, tôi đã có lần nuôi tham vọng gán ghép cho ca khúc một cái gì đó lớn hơn, tràn đầy ra ngoài cái hình thể nhỏ nhắn và khiêm tốn của nó. Đó chính là sứ mệnh truyền đạt những âu lo, những chờ đợi của con người khi đối diện với chính mình trước cuộc sống. Nó có bổn phận phải cưu mang trong từng dòng nhạc dòng chữ cái phần tinh khiết nhất của hạnh phúc và bất hạnh. Như vậy, ca khúc ngoài cái vai trò mua vui cũng được một vài trống canh, nó còn phải đảm nhiệm cái sứ mệnh đẹp đẽ mà các anh chị em họ hàng nghệ thuật của nó đã và đang làm.

Tôi nghe một tiếng hát và tôi thấy lại cả một khoảng trời đầy kỷ niệm. 

Tiếng hát đi từ tôi đến anh bằng con đường ngắn nhất. Cái khả năng to lớn sau cùng của ca khúc là mang đến sự cảm thông giữa mọi người bằng tiếng hát. Tôi ước mơ một ngày nào đó trên hành tinh này tiếng hát sẽ được trả về với vẻ đẹp thuần khiết của nó. Đó là tiếng hát bay qua các lục địa, các đại dương, mang trong lòng nó tình yêu và tình nhân ái. Cái sứ mệnh huy hoàng nhất của nó là phải mang được cái thông điệp ấy đến với từng con tim. Không những chỉ với những tâm hồn vốn yêu chuộng hòa bình mà cả những con tim đang ngộ độc bởi những ngòi thuốc nổ.

Diễm xưa
Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường đại học văn khoa ở Huế.
 
Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng, và mùa mưa cũng theo qua.Những mùa nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa xuân mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhạt nhòa trong mưa giữa hai hàng cây long não mù mịt.
Trịnh Ca - Đóa hoa vô thường 13

Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới đi qua hàng cây long não để đến trường.
 
Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có những tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ chậm rãi đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung.
 
Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kĩ.
 
Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một dòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng giúp cho con người được cứu rỗi ra khỏi vòng đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Nó không cám dỗ như trốn phồn hoa đô thị nhưng nó là mạch nguồn của một nguồn gợi cảm nhẹ nhàng riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất gần như không có thực.
 
Nhưng sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm thêu hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình.
 
Đó cũng là thời gian mà mỗi sáng tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyến đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.
 
Thời gian trôi đi ở nơi đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bỗng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.
 
Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đều đặn mỗi ngày dưới hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoan lạc của giấc mơ.
 
Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng cây long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn.
 
Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.
 
Người con gái ấy đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi rất xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỉ niệm. Kỉ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.
 
Trịnh Công Sơn (Thế Giới Âm Nhạc- tháng 3-1997)
Trịnh Công Sơn- Ngôn ngữ & những ám ảnh nghệ thuật
Mưa trong nhạc TCS
Diễm xưa”, một tình khúc nổi tiếng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn…mà phần lớn người Huế đều yêu thích; cũng được người Nhật yêu thích, chuyển ngữ với tựa đề “Utsukushii Mukashi”, rồi lại được Đại học Kansai Gakuin chọn làm nhạc phẩm đưa vào chương trình giảng dạy trong bộ môn Văn hóa và Âm nhạc; bắt đầu bằng những ca từ:
 
“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ,
Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao,
Nghe lá thu mưa, reo mòn gót nhỏ,
Đường dài hun hút cho mắt thêm sâu…”

Trong ký ức “Diễm của những ngày xưa”, 

Trịnh Công Sơn kể lại: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa ở Huế. Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua… Mùa mưa Huế, người con gái ấy đi qua nhoà nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt…”

Để giải thích hiện tượng một tâm hồn “buổi chiều ngồi ngóng, những chuyến mưa qua”, rồi thắc mắc “chiều này còn mưa, sao em không lại?”, có thể hiểu tương tự như cơ chế hình thành phản xạ có điều kiện của Pavlov trong y học. Đó là sự lập đi lập lại của một sự việc (những “buổi chiều… em… lại”) trong một điều kiện tự nhiên nhất định (“những chuyến mưa qua”), tạo nên một phản xạ có điều kiện trong… tâm thức. Và khi điều kiện tự nhiên ấy xảy ra (“chiều này còn mưa”), lập tức có phản xạ liên đới là “ngồi ngóng” hiện tượng kèm theo (“em… lại”), nhưng nếu hiện tượng kèm theo không có, sẽ gây trong tâm tư một thắc mắc “sao em không lại”?!

Nói về sinh thái học nhân văn, giáo sư Trần Quốc Vượng bảo rằng văn hóa – nhân văn Huế đã “dựa theo và thích nghi với hệ sinh thái tự nhiên”.
 
Đường vô xứ Huế loanh quanh, phần lớn diện tích của Thừa Thiên – Huế có địa hình đồi núi tạo thành một vòng cung từ phía tây xuống phía nam. Các dãy núi cao của Trường Sơn Bắc ăn lan ra sát biển và đột ngột chấm dứt ở phía nam của tỉnh bằng một mạch núi cao lên đến trên 1000m đâm thẳng ra biển và kết thúc bằng hòn Sơn Trà ở phía đông núi Hải Vân như một bức tường thành đồ sộ chắn gió mùa đông bắc, nên các đợt gió mùa hầu như không còn đủ sức vượt qua dãy núi cao này.
 
Do vậy, bao nhiêu lượng hơi nước trong không khí của gió mùa đều tích đọng ở Huế gây nên mưa và rét, và đây là vùng có lượng mưa vào loại nhiều nhất nước ta. Đặc biệt mưa Huế là loại mưa lệch pha: ở hai miền bắc nam thì có hai mùa mưa và khô gần như trùng nhau trong hai nửa thời gian của năm với hai mốc khoảng tháng 4 và tháng 10 dương lịch, còn ở Huế mùa mưa lại trùng với mùa đông lạnh.
 
Vào những lúc thời tiết đông lạnh mưa như vậy, người Huế ít ra khỏi nhà, thường nhìn mưa mà hồi ức với những kỷ niệm xưa… Từ đó hình thành nên một trong những nét của phong cách người Huế là thường trầm tư mặc tưởng, sống hướng nội hơn hướng ngoại, thích sâu lắng, không thích khoa trương ồn ào…

 …Kiểu mưa Huế ấy, đã được mô tả rất đặc sắc: “trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang / thênh thang…”, hoặc “mưa kéo dài lê thê những đêm khuya lạnh ướt mi”, hoặc:

 
Chiều chủ nhật buồn,
Nằm trong căn gác đìu hiu,
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều,
Trời mưa trời mưa không dứt,
Ô hay mình vẫn cô liêu…
 
Và so sánh với mưa các xứ khác, nhạc sĩ đã cho thấy rõ:
 
“Em còn nhớ hay em đã quên,
Nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng…”
 

Trịnh Công Sơn tâm sự:

 “…Thường thường, con người có thói quen sống bằng kỷ niệm, và khi một tác phẩm được gắn liền với kỷ niệm thì tác phẩm ấy đã sẵn có bề dày của sự ưu ái rồi!”.

 
Hãy theo dõi tiến trình xao xuyến của nhạc sĩ về kỷ niệm “yêu nhau yêu cả đường đi” trong không gian mưa… Với sự tả thực, khi thì “nghe lá thu mưa, reo mòn gót nhỏ…”, khi thì “mưa thì thầm, dưới chân ngà…”; nhưng khi những hình ảnh ấy chỉ còn là ký ức thì nhạc sĩ lại xót xa “...trên bước chân em, âm thầm lá đổ…”. Cho nên, phản xạ Pavlov “…bước chân em xin về mau...” vẫn tiếp diễn mãi như hiệu ứng domino:
 
“Người ngồi xuống, mây ngang đầu,
Mong em qua, bao nhiêu chiều…”
 
Một lối tu từ được nhạc sĩ sử dụng để ẩn dụ “còn mưa xuống như hôm nào, em đến thăm…”, mà “người ngồi đó, trong mưa nguồn, ôi yêu thương, nghe đã buồn…”, thì tính chất cơn mưa lại là một đối trọng được đặt ra để so sánh:
 
“Mưa có buồn bằng đôi mắt em?…
Mưa có còn buồn trong mắt trong?”
 
Là người Huế, các điệu hò mái nhì, mái đẩy man mác nước sông Hương chính là một biểu hiện rõ nét tính cách sâu lắng trong tâm hồn; cho nên những tiếng rơi của cơn mưa lại được ẩn dụ qua điệu ru “thôi ngủ đi em, mưa ru em ngủ…” là điều rất kỳ lạ:
 
“Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang…
Lời ru miệt mài, ngàn năm ngàn năm,
Ru em nồng nàn, ru em nồng nàn…”
 

Đó là những cơn mưa thực thể, nhưng ở nhạc sĩ họ Trịnh lại còn có những cơn mưa trong tâm thức:

 
“Nghe mưa nơi này, lại nhớ mưa xa,
Mưa bay trong ta, bay từng hạt nhỏ…”
 
Hoặc:
 
“Đôi khi, trên mái tình ta, nghe những giọt mưa,
Tình réo tình âm thầm, sầu réo sầu, bên bờ vực sâu…”
 
Giải thích ý nghĩa tác phẩm của mình, Trịnh Công Sơn nói:

 “Âm nhạc của tôi, nói cho cùng chỉ là những kỷ niệm của tôi và rồi sẽ là kỷ niệm của người nghe…”. 

Vì thế, giáo sư Cao Huy Thuần nhận xét: “Cảnh, tình và người trong Trịnh Công Sơn là cảnh Huế, tình Huế, người Huế… Sau này Sơn rời Huế và Sài Gòn, chất thơ trong nhạc của Trịnh Công Sơn vẫn là chất Huế, nguồn thơ vẫn chảy từ Huế. Vô số những bài hát của Sơn đều ướt và mưa. Vì Huế là xứ của mưa dầm. Mưa mùa đông, mưa mùa hè, mưa sợi nhỏ, mưa sợi to, mưa tỉ tê, mưa ray rứt, cảnh mưa trong Trịnh Công Sơn buồn nhưng rất đẹp…”.

Cuối cùng, nhạc sĩ bộc bạch, cho dù suối nguồn tạo cảm hứng trong tình ca của mình xuất phát như thế nào, vẫn không thể thiếu được một điều kiện tự nhiên:

“Từng người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ,
Ôi! những dòng sông nhỏ, lời hẹn thề… là những cơn mưa…”
 

Và đó chỉ là một tiền đề, một tiền đề để người nghệ sĩ ước mong được tiếp tục cuộc hành trình của mình:

 
“Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng,
Để người phiêu lãng, quên mình lãng
Hạt bụi bào hóa kiếp thân tôi

……………….3 giờ chiều chủ nhật 1-4-2001, 

cô bạn đồng nghiệp gọi dây nói cho tôi, báo tin: Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã qua đời cách đây vài tiếng đồng hồ. Tôi biết Sơn lâm bệnh từ nhiều năm nay, và gần đây, anh vào nằm ở bệnh viện Chợ Rẫy vì sức khỏe rất xấu. Biết vậy, nhưng tôi vẫn chưa tin, vì hôm nay là ngày 1-4. Tôi gọi điện thoại sang nhà Sơn ở 47C Phạm Ngọc Thạch thì gặp Hà, em của Sơn, Hà nghẹn ngào: “Sơn mất rồi!”.

Trong giờ phút đau buồn này, tôi xin nhắc lại đôi chút về người cha của Trịnh Công Sơn mà ít người biết. Một lần Sơn bộc bạch với bạn bè: có những điều vừa mới xảy ra đã vội quên. Thời thơ ấu của tôi luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hàng đêm, tôi thường thấy cái chết của ba tôi.

Trịnh Ca - Đóa hoa vô thường 11
Nỗi ám ảnh ấy chắc hẳn không bắt nguồn từ lớp dày tro bụi của vô thức làm nên từ những cái chết của tổ tiên mà có lẽ từ những năm tù tội tra tấn chết đi sống lại của ba tôi, trong kháng chiến chống Pháp. Những năm cuối thập niên 40, chỗ ở chính của ba tôi gần như là nhà tù. Và cái trò chơi “đo lường thể xác” của những tên cai ngục thường buộc ba tôi phải nằm dài trên giường bệnh nhiều hơn là đi chân trên mặt đất. Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949, tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi một năm trước khi gia đình kéo về Sài Gòn.

 
Rõ ràng là cái chết ấy được báo động qua một tâm hồn nhạy cảm của tuổi thơ. Ba Sơn mất đi khi anh vừa 15 tuổi. Sau này rất nhiều bài hát đầu đời của Sơn đã phảng phất cái không khí vắng lặng của sự mất mát. Càng về sau, lúc tiến dần về tuổi trưởng thành, giữa bức xúc của cuộc sống, giữa những năm tháng buồn vui, nỗi ám ảnh ấy đã trở thành lúc nào không hay ngọn nguồn của một nỗi âu lo thường trực và sự vắng bóng con người.

Anh hát lên lòng nhân ái đó, đã hát lên trong một thời niên thiếu và mãi mãi. Anh đi sâu vào cội rễ của nó để cố gắng hoàn thiện một tiếng hát mới mẻ đầy nhân hậu cho những ca khúc của riêng anh, như ta đã biết và đã hát.

Tôi là một đứa bé thích hát – sinh thời, Sơn tự bạch: 

Ngạn ngữ Pháp có nói rằng, cái gì bắt đầu tốt thì sẽ kết thúc tốt. Tôi không hiểu trong những địa hạt kinh tế, xã hội, khoa học như thế nào, nhưng trên lĩnh vực văn nghệ đôi khi hoặc nhiều khi nó không hoàn toàn như thế. Có không ít những trường hợp người nghệ sĩ đã khởi đầu rất hay và kết thúc rất tệ.

Tôi bước chân vào đất đai nghệ thuật tương đối sớm. Từ tuổi 13, 14 tôi đã làm những lưỡi sóng liếm láp mạn thuyền văn nghệ. Trước đó, 10 tuổi, biết chép lại những bài hát yêu thích, đóng thành tập, chơi đàn măng đô lin. 12 tuổi có cây đàn ghi ta đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng ghi ta như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát. Trong huyết quản tôi, có thể thời ấy đã luân lưu những lượng máu bất bình thường. Và từ đó tôi rơi vào một cơn mộng mị triền miên. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong. Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thể mà cha mẹ đã sinh thành ra Trịnh Công Sơn. Bài hát đầu tiên của anh do nhà xuất bản An Phú phát hành năm 1959 tại Sài Gòn, do Thanh Thúy hát quanh những phòng trà. Đó là những cảm xúc được ghi lại từ những giọt nước mắt của ca sĩ nữ sinh vừa rời ghế nhà trường. Hát để kiếm tiền nuôi mẹ đang hấp hối bên giường bệnh.

 Trịnh Công Sơn gốc Huế, sống tại Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại chào đời ở Đak Lăk.

Anh là một nghệ sĩ tài hoa. 

Lời của ca khúc họ Trịnh đầy tính triết lý về cuộc đời, về thiên nhiên, trời đất. Nói về con người, người đẹp của Sơn phải là người gầy, không gầy thì không đẹp.
Ví dụ: 
Vai gầy: Tuổi nào vừa thoáng buồn do gầy vai (Còn tuổi nào cho em). Tay gầy: Bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm, trên mùa lá xanh, ngón tay em gầy nên ru mãi trên ngàn năm (Ru em từng ngón xuân nồng). Đóa hoa hồng tàn hôn lên môi em gầy ngón tay dài (Tuổi đá buồn). Gầy và xanh: Mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao (Diễm xưa) hoặc: Bàn tay xanh xao đón ưu phiền (Nắng thủy tinh)…
Bài hát Nhớ mùa thu Hà Nội của anh có thật nhiều chi tiết khiến cho ai đã từng thân thương Hà Nội đến phải sững sờ: “Cây cơm nguội vàng… cây bàng lá đỏ…những con đường nhỏ nằm chờ tôi qua và những con sâm cầm cất cánh trên Hồ Tây… Rất ít ai hạ bút viết được những ý này như Sơn. Giai điệu âm nhạc của anh thì ai cũng cảm thụ được. Cũng cái đẹp này, Khánh Ly viết: “Tôi không nhớ Hà Nội bao nhiêu. Không yêu Sài Gòn nhiều lắm mà chỉ xót xa đến Huế nóng cháy da, mềm thịt. Huế lạnh buốt, lạnh từ trong lạnh ra. Dường như Huế chỉ thực sự huyền ảo, đẹp nên thơ bởi những nghệ sĩ viết về quê hương mình. Có lẽ đó là điều dĩ nhiên của mọi người, mọi miền khi viết về nơi mình sinh ra. Âu cũng không phải điều làm ta ngạc nhiên. Nhưng không phải vì những điều người Huế viết về người Huế đã làm tôi yêu Huế. Vì như vậy thì tôi phải yêu Hà Nội nhiều hơn mới có lý. Phải yêu Sài Gòn hơn, Đà Lạt hơn mới phải. Vậy mà tôi yêu Huế, thỉnh thoảng gặp lại một vài người bạn tôi năn nỉ Mi noái cho tau nghe chút chi cho đỡ nhớ. Con gái Huế nói như hát, dịu dàng, đi đứng khép nép, nhẹ nhàng. Có một cái gì thật mong manh, như tơ, như sương khói, nhưng một điều không có thật trong con người của các cô gái Huế. Tôi có cảm tưởng họ không phải là sự hiện hữu. Một chút hương khói hư ảo chập chờn. Chỉ một tiếng động khẽ, dù là tiếng rơi của một chiếc lá, cũng làm tan biến đi tất cả…”. Cho nên cái vẻ mong manh như sương khói của Huế là một sức mạnh cường tráng và dữ dội của thác ghềnh. Như nhạc phẩm của Trịnh Công Sơn, mơ màng đó, sương khói đó, nhưng không tan biến theo thời gian mà vẫn đọng, vẫn chảy trong lòng người.

Nhiều cụm từ trong nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dường như đã đáp lại tiếng thì thầm nhu mì, ảo diệu của thiên nhiên và để kịp ghi những sắc thái bí ẩn mà vũ trụ lưu lại: vết lăn trầm, màu xanh lá vội, ngón tay rêu, cọng buồn cỏ khô, cụm chiều, ngón xuân nồng, nụ đời, phiếu môi em mềm… Những sáng tạo ngôn từ của Sơn sáng tạo mà không cầu kỳ, ngẫu nhiên mà không tùy tiện, giàu chất suy tưởng mà không duy lý, bởi chúng thấm nhuần cái tinh thần sống động tươi xanh mềm mại của thiên nhiên…
 

Các tuyển tập: 

  • Ca khúc da vàng; 
  • Kinh Việt Nam; 
  • Ta thấy mặt trời; 
  • Cỏ xót xa đưa; 
  • Như cánh vạc bay; 
  • Khói trời mênh mông; 
  • Tự tình… 

Trong các thập niên 60-70, được nhiều thế hệ thanh niên, sinh viên, học sinh yêu thích, đặc biệt ca khúc Nối vòng tay lớn được chọn hát trên Đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trưa ngày 30-4-1975, giờ phút miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau ngày đất nước thanh bình, đã mở ra những chân trời mới trong sáng tác của người nghệ sĩ. Ngoài sáng tác ca khúc, anh còn viết báo, viết văn, làm thơ với bút pháp trau chuốt, mượt mà, tinh tế, với vốn kiến thức uyên thâm, được nhiều nhà văn, nhà báo đánh giá cao.
Ở giai đoạn này, về ca khúc đáng chú ý nhất là:

  • Huyền thoại mẹ; 
  • Em ở nông trường em ra biên giới; 
  • Sài Gòn mùa xuân; 
  • Nhớ mùa thu Hà Nội; 
  • Muôn trùng biển khơi; 
  • Hoa vàng mấy độ; 
  • Tôi ơi đừng tuyệt vọng; 
  • Đồng dao năm 2000; 
  • Bốn mùa thay lá… anh còn viết nhiều nhạc cho phim.
 
Lúc còn sống, anh tâm sự với bạn bè rằng, cả cuộc đời tôi đi vào âm nhạc, có buồn, có vui, nhưng vẫn thủy chung. Tôi đã cố gắng trong khả năng của mình nói hết những điều cuộc đời đã hé mở cho tôi và tôi cũng đã trải lòng mình không giấu diếm. Trong cuộc chơi này, có lúc tôi thấy đời với tôi là một. Chỉ có một điều không có gì an ủi nổi là tôi thì không già đi mà đời cứ trẻ mãi!… Trong tự bạch của mình, Trịnh Công Sơn viết: “Nhìn lại quãng đường mình đi, tôi cảm thấy không có gì phải ân hận. Tôi vẫn là đứa trẻ thơ trong nghệ thuật, lòng còn tràn đầy cảm hứng. Tôi vẫn còn ham mê học hỏi quanh mình và còn đủ hào hứng mở ra những cuộc đối thoại với cây cỏ thiên nhiên, với con người, qua ca khúc dưới ánh sáng hiền hòa nhân hậu của những ngày tôi đang sống.
 
Phải chờ đến lúc soi gương nhìn thấy tóc không còn mang màu xanh cũ nữa mới nhận ra được hết nỗi khát khao được yêu thương mãi mãi con người và cuộc sống. Yêu thương con người cũng là yêu thương tiếng hát, bởi vì tiếng hát mang trong nó tâm hồn của con người. Tiếng hát sẽ mọc lên xanh tươi rên cuộc đời này như những cây tử đinh hương mọc tràn thơm tho trên những cánh đồng vô tận.
Với ca khúc, tôi là người tình của thiên nhiên, là người bạn của những em bé. Qua ca khúc, tôi đã đến gần và đã đi xa những chuyện tình, đã tham dự những nỗi hân hoan của đời người và cũng gánh nhẹ dùm những phiền muộn.
 

Ca khúc là đời sống thứ hai sau cái thân thệ mà cha mẹ đã sinh thành…”.

Anh còn vẽ tranh. Uống rượu và vẽ tranh, vẽ tranh và uống rượu, hay cả hai cùng chia sẻ với anh nổi quạnh hiu đêm đêm. Những thập niên cuối đời, Trịnh Công Sơn vẽ tranh là một hoạt động hào hứng và thường xuyên. Ngoài một tài năng lớn về âm nhạc, Sơn còn là một họa sĩ có phong cách hội họa hiện đại quyến rũ vượt trội mặc dù không hề qua trường lớp mỹ thuật nào. Cũng như âm nhạc, tài năng hội họa được bộc lộ mạnh mẽ trên các tác phẩm sơn dầu của anh, nhất là những tác phẩm vẽ chân dung hoặc khỏa thân. Trịnh Công Sơn là một tài năng bẩm sinh. Thật ra anh có khả năng lớn để đi theo con đường nghệ thuật tạo hình từ những năm cuối của thập niên 50; anh đã từng thực hiện một số tranh bằng bột màu. Một trong những bức tranh thời đó còn lưu lại là bức vẽ B Diễm (Diễm xưa) với hàng cây long não phía sau bằng một gam màu lạnh…. Có lần anh trả lời phóng viên báo Đại Đoàn Kết: “Tôi không thấy có ranh giới nào giữa thế giới âm thành và thế giới im lặng cả. Những gì không nói được bằng ngôn ngữ của âm nhạc thì tôi nhờ đến ngôn ngữ màu sắc. Nếu cả hai phương tiện này cũng chưa chuyên chở hết những suy nghĩ của tôi về đời và con người thì tôi lại phải tính đến văn chương”.
 
Người nhạc sĩ tài hoa 62 tuổi ấy có sức hút lạ lùng, mạnh mẽ. Chỉ cần với tên gọi đơn giản của chương trình “Đêm nhạc Trịnh Công Sơn cũng đủ để người đến đông nghẹt. Nhưng Sơn ơi, anh đã nằm xuống, âu cũng là một cõi đi về, nhưng chắc chắn âm thanh của âm nhạc sẽ bay xa mãi và còn vang vọng trong lòng nhiều thế hệ.
 
Ngày còn sống, Sơn đã mơ thấy chuyến đi xa của mình. Anh đã viết trước thành câu chữ về chuyến đi đó như sau: “Càng sống nhiều, người ta càng thấy cái chết dễ dàng đến với bất cứ ai. Chết quá dễ dàng mà sống là quá khó. Hôm qua gặp nhau đấy, ngày mai lại gặp nhau. Sống thì có hẹn hò hôm nay, ngày mai. Chết thì chẳng bao giờ có cuộc hẹn hò nào trước. Một buổi sáng cách đây 4 năm (Bản tự bạch này đăng ở đặc san Thơ số 3 của quý III năm 2003 ở phụ trương báo Văn nghệ Hội nhà văn Việt Nam), lúc tôi đang ngồi uống rượu với bạn, mẹ tôi bảo “Má đi chơi một chút nghe”. Thế rồi một giờ sau, tôi được điện báo tin mẹ đã mất ở nhà người bạn.
 
Nhạc sĩ Xuân Hồng cũng đã từ biệt chúng tôi như thế. Không kịp nói một lời, không kịp đưa tay vẫy chào bạn bè, vẫy chào cuộc sống. Thế kỷ XXI thế mà cũng khó đến được, dù chỉ còn mấy năm.
Càng yêu ta càng thấy: Có tình yêu thì khó mà mất tình yêu quá dễ. Hôm qua nói yêu nhau đấy, hôm nay đã mất rồi. Mất sạch như người buôn mất đi vốn liếng. Cứ tự an ủi mình rằng mình đau khổ thì có một kẻ khác đang hạnh phúc. Và biết đâu cái thời gian mình được yêu thì một người khác đang đau khổ vô cùng. Nghĩ thế thì thấy cuộc đời bỗng nhẹ nhàng hơn và cũng dễ tha thứ cho nhau. Sống mà giữ mãi trong lòng hờn oán thì cũng nặng nề.
 

Có người bỏ cuộc đời đi mà như một giấc ngủ quên. 

Có người bỏ cuộc tình đi như người đãng trí. Dù sao cũng đã lãng quên một nơi này để đi về một chốn khác. Phụ đời và phụ người hình như cũng vậy mà thôi. Người ở lại bao giờ cũng nhớ thương một hình bóng người đã mất. Khó mà quên nhanh, khó mà xóa đi trong lòng một nỗi ngậm ngùi.

 

 Tưởng rằng có thể quên đi dễ dàng một cuộc tình, nhưng hóa ra chẳng bao giờ quên được. Mượn cuộc tình này để xóa cuộc tình kia thì chỉ là một sự vá víu cho tâm hồn. Những mảnh vá ấy chỉ đủ để làm phẳng lặng bên ngoài mà thôi. Mỗi một con người vì ngại chết mà muốn sống. Mỗi con người vì sợ mất tình mà giữ trong lòng nỗi nhớ nhung…”.

 
Để kết thúc cho bài viết này, tôi xin nhắc một chút về “Những người tình” của Trịnh Công Sơn. Cách đây vài năm, một phóng viên hỏi ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, cô em út của Sơn (Gia đình Sơn có tám anh chị em, ba trai năm gái: Sơn, Hà, Tịnh, Thúy, Tâm, Ngân, Diệu và Trinh. Người cha mất sớm, khi đó Trinh vẫn còn nằm trong bụng mẹ mới được bốn tháng tuổi. Vì vậy, Sơn luôn thương và chăm sóc cho Trinh nhiều nhất), rằng: “Gần đây, một người được cho là người tình cuối cùng của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã đi lấy chồng, không biết gia đình có quan tâm đến điều đó không?”. Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh cười, đáp: “Người nào cũng đòi làm người tình cuối cùng của anh Sơn hết. Cái đó tôi không biết và cũng không để ý. Anh Sơn là một nhạc sĩ, một bóng hồng đẹp đi qua, anh cũng làm được một bài nhạc hay một bài thơ…”.
 
Câu trả lời của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh rất ấn tượng đối với những người nghiên cứu nhân văn. Người tình cuối cùng, người tình đầu tiên, người tình trong giai đoạn X, Y, Z gì gì đó không đáng quan tâm mà chỉ nên lưu ý đến “những bóng hồng đẹp” đã đi qua đời Trịnh Công Sơn và đã giúp cho anh để lại cho đời “một bài nhạc hay bài thơ” mà thôi.
 
Nếu là mối tình đầu của Trịnh Công Sơn, ta hãy nghe Sơn kể “Diễm của những ngày qua” được đăng trên báo Gia đình và xã hội cuối tuần số ra từ ngày 12 đến 18-1-2002: “Thuở ấy có một người con gái rất mong manh đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường Đại học Văn khoa Huế. Nhà cô ấy bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường. Từ ban công nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy, hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ biến mất đi. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa…”.
 
Thôi, nhưng đã trót nói thì nói ra cho hết, tuy có hơi dài dòng một chút. Sau gần nửa thế kỷ, hơn 300 bức thư tình mới được chủ nhân của nó – bà Ngô Thị Dao Ánh tiết lộ, hé mở phần sâu thẳm trong trái tim một nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn, gắn với một thời đoạn khai sinh những ca khúc bất hủ về tình yêu và thân phận. Nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của Sơn, nhà thơ Nguyễn Duy, người được gia đình Sơn tin cậy giao phó việc biên tập và xuất bản tác phẩm Thư tình gửi một người, thổ lộ: “Đọc hết 320 lá thư tình, tôi gần như choáng váng. Cảm ơn những người tình như Dao Ánh đã biết gìn giữ tình yêu của anh Sơn trong 46 năm qua, tức là gần nửa thế kỷ Dao Ánh vừa là một tình yêu rất cụ thể, đồng thời là một tình yêu biểu tượng. Một tình yêu cụ thể đã chấm dứt, nhưng biểu tượng tình yêu thì bất tử với thời gian”.
 
Xin trích một trong những bức thư buồn ấy.
 
B’lao, ngày 25 – Mars – 1967
Bây giờ đã quá khuya, chương trình chuyên đề về tình yêu còn để lại một vị đắng rất mỏng. Mọi người cũng đã ngủ từ lâu và anh cũng phải quyết định một lần cho Ánh lẫn cho anh. Một quyết định thật khó khăn và chẳng ai trong cuộc dám dứt khoát với chính mình. Quyết định nào cũng có sự khổ sở của nó. Anh cam đành là kẻ bội bạc để mở ra cho Ánh sự ngạt thở bấy lâu trong đó người này hay kẻ kia đã cố gắng đóng cho trọn vai trò của mình. cho đến phút này anh vẫn cảm thấy chỉ riêng anh đã sống thật hồn nhiên trong tình yêu đã qua.
“Chúng mình chấm dứt tình yêu đó ở đây”.
Hãy xem mọi lầm lỗi đều ở anh và cả sau quyết định này là một lối ngỏ thênh thang trên đó, Ánh hãy đi vào những phiêu lưu mới đừng ăn năn, đừng băn khoăn gì cả. Tất cả đã rõ như một khoảng trắng. Cũng đành vậy thôi.
Anh đã nhìn tình yêu ở một độ cao nhất của thủy triều. Quyết định như không thuộc về anh. Anh xin cảm ơn bốn năm ròng rã nâng niu tình yêu đó. Cũng xin cảm ơn những buổi chờ đợi thật dịu dàng không bao giờ còn có được. Để vĩnh biệt nhau trong tình yêu đó. Anh chỉ muốn khuyên Ánh, trong tương lai hãy tự tin hơn và bớt suy tính.
Anh đã bất lực không cứu vãn gì được cho tình yêu của mình. Thêm một lần đánh mất và thất lạc những vàng son.
Đã viết quá dài ngoài ý muốn, nhưng nói một lần mà cho tất cả về sau.
Cầu mong thật nhiều bình an cho Ánh và đời đời hạnh phúc trong những dự tính mới ở tương lai.
Nghệ thuật là phong phú và đa dạng, đôi khi nó cũng cần vu vơ thẩm mỹ và hướng thiện như là ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…

Cao Bá Quát đã từng nói:

 “Đời người há không viết gì lên đấy, như một tấm bia không chữ”. Người đời sẵn sàng phê phán thói hư danh, nhưng không nên nhầm lẫn với sự hiếu danh; khát vọng lưu danh là chính đáng và là đòi hỏi đáng giá để đặt ra trước cuộc sống trần thế. Chẳng biết ở cuộc đời mà Sơn đã sống, không dài mà cũng không quá ngắn ngủi ấy, với anh buồn nhiều hay vui nhiều, nhưng chắc chắn anh vô cùng cô đơn, nỗi cô đơn của một tài năng đúng nghĩa. Anh không có nhà cửa nguy nga, của cải vật chất và không có vợ con. Nhưng Trịnh Công Sơn có một cái tên lưu truyền cho hậu thế. Trong kho tàng đồ sộ mà anh để lại cho chúng ta hôm nay và cả mai sau, bất cứ ai còn biết trăn trở của mình ở đó… Theo thống kê cho đến nay, anh có hơn 600 ca khúc, hầu hết đã đi vào lòng người và khoảng 6.000 bài báo viết về anh (cả báo nước ngoài) và do anh viết về nhiều mặt trong cuộc sống. Và tất cả cái đó để làm gì? Cũng theo lời bài hát của Sơn, Để gió cuốn đi. Trịnh Công Sơn đã sống với ý niệm đó.

Đại Đoàn Kết, 4-4-2001
Trích từ “Chân dung bằng chữ”của Trần Thanh Phương & Phan Thu Hương biên soạn
NXB Văn hóa – văn nghệ tháng 4/2011

Leave a Reply

Your email address will not be published.